Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) Phạm Phan Quang là người rất nghiêm túc trong công việc, nhưng ngoài những giờ phút “công chức hóa” ấy, ông lại là một người thoải mái, dễ gần. Trong một lần trò chuyện cùng nhiều đồng nghiệp, ông đã kể lại một kỷ niệm đã hằn sâu vào ký ức của ông trong thời gian làm công tác tài chính của mình, bởi tính giáo dục truyền thống sâu sắc từ câu chuyện nho nhỏ đó. Ông Quang kể:
Tôi công tác trong ngành tài chính tới nay đã mấy chục năm, bởi kể từ khi ra trường, tôi đã vào công tác trong ngành rồi. Trong cuộc đời làm người cán bộ tài chính của mình, tôi cũng như nhiều người khác đều có những kỷ niệm buồn, vui, những va vấp, thành công… khác nhau, và cùng với đó là những ký ức khó quên. Câu chuyện tôi kể dưới đây chỉ là một câu chuyện tuy rất nhỏ, nhưng nó làm tôi suy ngẫm rất nhiều, nhất là câu nói của cụ già Nam Bộ trong câu chuyện này.
Trong những năm tháng từ năm 1990 trở về trước, tôi công tác tại Vụ Nông lâm thủy lợi (Bộ Tài chính). Như tên gọi của nó, đây là một trong những đơn vị của ngành tài chính phải đi nhiều nhất, lăn lộn nhất. Thời đó khổ lắm, ăn bo bo mà vẫn đi làm, chiến tranh 79 diễn ra cả Bộ đi tập quân sự. Đi làm rất đúng giờ, quần áo chẳng có gì là cao sang cả, chỉ xuề xòa, đúng là một cặp lồng cơm độn bo bo với rau muống, cà muối, hiếm hoi lắm được quả trứng rán với nước cơm cho được nhiều… nhưng làm việc thì rất say sưa. Tôi ngày đó cũng làm công tác đoàn, và đói khổ là thế nhưng đoàn thanh niên tối tối vẫn tổ chức nhảy múa, văn nghệ cách mạng.
Đồng bào cả nước về dâng hương tại Đền Hùng - Phú Thọ trong ngày giỗ tổ
Thời gian đó, Nhà nước chủ trương dùng tiền ngân sách mua lương thực trong miền Nam để làm nhiệm vụ dự trữ quốc gia cũng như điều tiết ra miền Bắc để tiết giảm những khó khăn về lương thực. Chúng tôi đi mua lúa gạo dự trữ trong đó để đưa ra miền Bắc. Thực ra thì các địa phương trong đó họ làm hết, ngành tài chính chỉ có nhiệm vụ đi kiểm tra, kiểm chi, cấp phát tiền cho các công ty lương thực lớn. Mỗi lần đi như thế, đến địa phương nào thì cũng có người của chính quyền địa phương và người dân địa phương dẫn đi, vì đường đất vòng quanh, cán bộ miền bắc mới vào, không thạo đường.
Lần đó, đoàn chúng tôi đi tới vùng Cà Mau, tận cùng Tổ Quốc - do một cán bộ huyện Ngọc Hiển và một ông già khoảng 80 tuổi là cư dân ở đây dẫn đi. Nhìn ông, chúng tôi hết thảy đều rất ấn tượng, bởi ông có vẻ bề ngoài đặc biệt đậm chất Nam Bộ, quắc thước, đen gầy, nhưng đường nét rất hiền từ, được gọi là ông Ba. Cả đoàn vào nhà, ông xách ra chai rượu đế, nhâm nhi chén rượu, ông hỏi thăm sức khỏe, hỏi quê của từng người một. Khi đến tôi, tôi nói tôi quê Nghệ An, ông chợt à lên, rồi thủng thỉnh bảo: “Tôi cũng là người ngoài đó”. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì nhìn ông đậm đặc chất Nam Bộ quá, từ cái nhìn tới giọng nói, điệu bộ, cử chỉ, đây lại là vùng tận cùng miền Tây sông nước. Biết chúng tôi ngạc nhiên nhưng không dám hỏi, ông cười cười bảo: “Tao sanh ra ở đây, nhưng ba tao là người ngoài Nghệ An vô. Bay thấy hông, tất cả đều là con cháu vua Hùng, con cháu Bác Hồ cả”. Chúng tôi à cả lên, và chịu lý lẽ của ông già nông dân Nam Bộ nói sao mà đúng quá.
Câu chuyện thực ra chỉ có thế, nhưng đối với tôi, dường như đó mới là sự bắt đầu của dòng suy tưởng. Khi đó, tôi đang còn trẻ, còn sung sức trong công tác, nhưng từ trước cho đến khi đó, tôi chỉ chú trọng học tập nhiều, học chuyên môn ấy, chưa chú tâm nhiều đến lịch sử, đến những vấn đề truyền thống, đến câu chuyện mở cõi, khai hoang, đến ý thức dòng máu Lạc Hồng. Nhưng kể từ khi trực tiếp nghe từ miệng ông già miệt Ngọc Hiển, Năm Căn ngày đó câu nói hết sức giản dị, tự nhiên nhưng vô cùng sâu sắc, vô cùng chính trị, vô cùng truyền thống đó, tôi mới ngẫm ra mình còn thiếu những ý thức quan trọng của một con người bình thường (chứ chưa nói gì to tát hơn), như là ý thức về lịch sử, về dân tộc.
Đền thờ các Vua Hùng trong Thảo Cầm Viên - TP. Hồ Chí Minh
Từ đó, đi tới đâu, tôi cũng đều cố gắng quan sát, ghi nhận để suy ngẫm. Mình vốn quen với đồng đất miền Bắc, miền Trung, nơi những thôn làng luôn được rào quanh bằng lũy tre làng. Ngày đó, khi vào đến Nam Bộ, thấy những cánh đồng bát ngát cò bay, ngẫm ra từ lời nói của ông già Nam Bộ kia thì mới thấy ông cha mình quá giỏi. Tỉ như vùng Nam Bộ đây, tuy kênh rạch chằng chịt, có vẻ như tự nhiên đã khiến cho vùng đất này thiếu gì sông ngòi, kênh rạch, nhưng lại có những dòng kênh không phải là tự nhiên đắp đổi mà có, mà lại chính là do bàn tay khối óc của con người. Ví như kênh Vĩnh Tế (dài gần 100 km nối liền hai thị xã du lịch nổi tiếng miền Tây là thị xã Châu Đốc - tỉnh An Giang và thị xã Hà Tiên - tỉnh Kiên Giang - là công trình có ý nghĩa quan trọng trên lĩnh vực kinh tế và quốc phòng, gắn liền với tên tuổi của Thoại Ngọc Hầu…) cũng là kênh đào - con kênh đào nổi tiếng nhất, lớn nhất thuộc đồng bằng sông Cửu Long.. lại là công trình của con người kiến tạo nên.
Những thành tựu đó của cha ông quá khổng lồ, quá vĩ đại, nhưng điều quan trọng mà tôi đã nhận thức được từ đó chính là ở chỗ, tôi hiểu ra cội nguồn sâu sắc của những hành trình ấy, những quan hệ máu thịt của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam này. Rõ ràng là từ miền Bắc, ông cha ta đã làm một cuộc hành trình mở cõi bền bỉ, lâu dài, mà thực sự cội nguồn thâm sâu của người Việt mình đều từ đất vua Hùng mà ra. Điều đó cho tôi thấy, truyền thuyết không chỉ là truyền thuyết, không chỉ là thần thoại, là tưởng tượng, mà truyền thuyết luôn gắn với sự thật. Sự thật là trong truyền thuyết thuở hồng hoang xưa, người Việt mình có 50 người con theo mẹ lên núi, 50 người con theo cha xuống biển, mở đất mở nước xây dựng nên non nước này. Tuy chia ly như thế, cũng có thể có một cuộc chia ly như thế, chia người như thế.. nhưng tất cả đều là anh em ruột thịt. Truyền thuyết mà là rất thật chính là ở chỗ đó.
Cũng từ câu chuyện của ông già Nam Bộ ngày đó, soi vào lịch sử cách mạng nước mình, tôi lại càng thấy thấm. Trước hết, một ông già đặc sệt Nam Bộ, nông dân chính gốc, nhưng đã khẳng định: chúng ta đều là con cháu Vua Hùng, con cháu Bác Hồ. Quá đúng. Tất cả đều là con cháu vua Hùng hết. Sau này, khi lịch sử dân tộc có thêm các trang lịch sử cách mạng, những thế hệ hiện đại của chúng ta đều là con cháu Bác Hồ. Từ khi có Đảng lãnh đạo, đất nước chấm dứt nghìn năm Bắc thuộc, trăm năm thuộc Pháp, giành độc lập tự do bằng Cách mạng tháng Tám. Sau khi có Đảng, có Bác, nhiệm vụ của Đảng là giải phóng dân tộc, lấy ruộng đất chia cho người nghèo, Đảng CS lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc… Giải phóng dân tộc rồi, chúng ta lại tiến hành cuộc chiến tranh giữ nước.
Trong những năm tháng đó, Bác Hồ đã nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. Việc giải phóng miền Nam cũng là việc giữ nước”, lấy lại giang sơn của ông cha mình, tổ tiên mình, công đó là công trời biển, không có gì so sánh được. Nhiệm vụ của các thế hệ con cháu chúng ta là bảo vệ và xây dựng cho nó tốt đẹp hơn. Đất nước Việt Nam là do tổ tiên ta đã xây dựng nên từ hàng ngàn đời nay chứ không phải là mới. Trải qua các thời kỳ, đất nước trải nhiều trầm luân, nhất là dưới thời thuộc Pháp, đất nước bị chia cắt làm ba: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ để chúng dễ trị, dễ cai quản, và hậu quả ghê gớm nhất cho tới tận ngày nay là sự chia rẽ này đã gây ra những cục bộ địa phương, phân biệt người Bắc, người Trung, người Nam ...Nhưng rõ ràng là về bản chất, nó không phải thế, mà từ thời các vua Hùng cũng chỉ có một gốc rễ, một cội nguồn mà thôi. Người Việt vẫn cứ là người Việt. Người Việt có văn hóa làng, xóm. Mô hình thôn làng ở Việt Nam không một nước nào trên thế giới có được, đặc biệt là thôn làng Bắc bộ. Đã về thôn về làng thì phải đi qua lũy tre, một hàng tre như bảo vệ, như đồn lũy, mỗi làng là một đồn lũy. Trong đồn lũy đó, nhiều giá trị được bảo vệ, được tôn vinh, được duy trì từ đời này sang đời khác, thành truyền thống, thành văn hóa. Một nghìn năm Bắc thuộc đô hộ nhưng không đồng hóa được người Việt. Người Việt vẫn là người Việt. Ai cũng có thôn làng, họ hàng, chòm xóm.
Sau này, tôi ngẫm lại mới thấy, trong giai đoạn cách mạng, có những bài hát, bài thơ rất hay, đã hay về âm điệu nhưng còn rất sâu sắc về ca từ. Như bài hát “Bóng cây Kơ nia”: “Em hỏi cây kơnia, bóng mày ngả về đâu? Em hỏi cây Kơnia: rễ mày uống nước đâu? Uống nước nguồn Miền Bắc”. Uống nước nguồn miền Bắc - nguồn tức là cội, là gốc. 54 dân tộc anh em chỉ có một nơi phát tích, một cội nguồn. Tôi càng thấm tại sao Bác Hồ từng nói: “Miền Nam trong trái tim tôi” Không phải tự nhiên mà “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.