Thứ Bảy, 31/07/2010 - 04:57    
 Chi tiết tin bài
Tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước và quản trị công ty
Ngày đăng: 10/11/2009
Dự án Hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị cải cách doanh nghiệp nhà nước và quản trị công ty do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam thông qua Bộ Tài chính.

            Dự án đã bắt đầu hoạt động từ tháng 6/2008 và kết thúc vào 30/5/2009. Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) được giao nhiệm vụ triển khai thực hiện. Công ty TNHH Ernst & Young được ADB và Chính phủ Việt Nam lựa chọn làm tư vấn cho dự án. Dự án đã triển khai các công việc theo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng nội dung theo yêu cầu.

Tham gia Dự án có năm Tổng công ty, doanh nghiệp. Đó là: Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty Đường sông miền Nam (Sowatco), Tổng công ty Cà phê Việt Nam (Vinacafe), Tổng công ty Hóa chất Việt Nam (Vinachem), Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC).
Tư vấn dự án đã tiến hành triển khai thu thập thông tin của các doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và định hướng chiến lược trong tương lai để đánh giá và đưa ra các khuyến nghị đối với việc cải cách doanh nghiệp nhà nước và quản trị công ty đối với các Tổng công ty, doanh nghiệp. Cụ thể đó là:
Dự án thực hiện phân tích, đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh; khả năng thanh toán nợ thông qua hệ số thanh toán tổng quát, khả năng chi trả; kết quả hoạt động kinh doanh thông qua chỉ tiêu khả năng sinh lời của tài sản, khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu; đặc biệt Dự án đã đánh giá khả năng tạo ra đồng tiền từ các hoạt động của các doanh nghiệp trong quá khứ và trong tương lai. Bên cạnh đó, Dự án đã tập trung phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của Tổng công ty, doanh nghiệp qua việc xem xét các nhóm, ngành kinh doanh chính, bao gồm đánh giá chuỗi hoạt động của các công ty hoạt động trong các nhóm, ngành có liên hệ với nhau, phân tích điểm yếu, điểm mạnh và các nhân tố cạnh tranh.
Về cơ bản, các doanh nghiệp sau khi sắp xếp, chuyển đổi sở hữu theo hình thức cổ phần hóa, phương thức quản trị cũng đã được đổi mới, hoạt động có hiệu quả hơn. Quan hệ giữa công ty mẹ với các công ty thành viên được hình thành theo phương thức đầu tư kinh doanh, được thiết lập trên quan hệ sở hữu vốn là chủ yếu, thay vì trước đây hoạt động theo phương thức hành chính, cấp trên cấp dưới, không phân biệt rõ quyền hạn và trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh cũng như lợi ích từ hoạt động kinh doanh mang lại. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng vẫn còn những doanh nghiệp hiệu quả hoạt động chưa cao, phương thức quản trị chưa được đổi mới, vẫn còn mang dáng dấp của cơ chế cũ, hoạt động còn mang tính mệnh lệnh hành chính. Về ngành nghề kinh doanh, nhìn chung một thực tế là rất nhiều công ty con trong Tổng công ty, doanh nghiệp đã mở rộng hoạt động kinh doanh sang các lĩnh vực mà các công ty thành viên khác đang hoạt động. Các lĩnh vực mở rộng này có thể tận dụng được lợi thế cạnh tranh, nhưng cũng có thể làm yếu kém hơn về khả năng cạnh tranh do thiếu sự quản lý tập trung và quan tâm thỏa đáng. Kết quả là công ty này thường không quản lý tốt lĩnh vực mở rộng này bằng các công ty chuyên về lĩnh vực đó. Một số công ty con sau khi cổ phần hóa chưa thể hoàn toàn tự chủ về hoạt động kinh doanh cũng như về tài chính do quy mô quá nhỏ... và phải phụ thuộc rất nhiều vào Công ty mẹ. Việc đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh của các công ty nhỏ lẻ, thiếu sự điều tiết của Tổng công ty, doanh nghiệp cũng nảy sinh những xung đột về lợi ích và cạnh tranh nội bộ không cần thiết. Do các công ty thực hiện các hoạt động kinh doanh khác nhau, việc quản lý cũng không tập trung mà trải rải rác ở các hoạt động kinh doanh khác nhau nhìn từ khía cạnh Tổng công ty, doanh nghiệp. Điều này tạo ra sự trùng lặp các nguồn lực trong một số ngành nghề kinh doanh nhất định.
Đối với các định chế tài chính trung gian hỗ trợ cho quá trình sắp xếp, cải cách DNNN, Dự án đã phân tích đánh giá thể chế hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC). Trong đó, đối với SCIC, dự án tập trung phân tích, đánh giá về ảnh hưởng của khung pháp lý hiện hành quản lý hoạt động của SCIC, về quy trình quản lý tại SCIC và vấn đề quản trị doanh nghiệp đối với các công ty nhận đầu tư của SCIC. Theo đó, quy trình báo cáo giữa SCIC với các công ty trong hệ thống chưa được xác định rõ ràng. SCIC và các công ty nhận đầu tư không có hạ tầng công nghệ thông tin chung. Các công ty nhận đầu tư chưa minh bạch trong hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động cũng như các thuyết minh báo cáo. Do báo cáo tài chính của các công ty nhận đầu tư không được thu thập thường xuyên, nên SCIC rất khó đánh giá đúng đắn hiệu quả hoạt động nhằm đưa ra quyết định duy trì hay thoái đầu tư vào các công ty này... Đối với DATC, Dự án tập trung xác định các trở ngại về pháp lý và chính sách đối với DATC và đưa ra các thay đổi chính sách phù hợp; các nhu cầu phát triển doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động và vai trò của DATC. Hiện nay, DATC đang triển khai hoạt động kinh doanh theo định hướng tái cơ cấu các đơn vị khách nợ trước khi bán các khoản nợ xấu. Cách này đem lại nhiều lợi ích, song DATC lại gặp rất nhiều khó khăn. Khi thiết lập và thực hiện các biện pháp tái cơ cấu, việc đầu tiên là DATC ký kết thỏa thuận với các cổ đông hiện hữu; nếu không DATC sẽ chỉ có vai trò của một chủ nợ và sẽ không thể thực hiện các biện pháp tăng cường hay phục hồi tình hình tài chính của các doanh nghiệp khách nợ có liên quan hoặc hỗ trợ cổ phần hóa các doanh nghiệp khách nợ này. Tuy nhiên, các biện pháp tái cơ cấu khi được thực hiện không có các chế tài pháp lý ràng buộc với các bên thứ ba (người lao động hoặc Ủy ban nhân dân các địa phương), do đó có thể sẽ gặp phải sự phản ứng của bên thứ 3 về các lợi ích của họ trong doanh nghiệp khách nợ.
Vấn đề nhân sự, hệ thống quản lý thông tin cũng được Dự án nêu ra như một vấn đề cấp thiết cần giải quyết để nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp tại Tổng công ty, doanh nghiệp.
Dự án đã đưa ra nhận định: CPH DNNN chỉ là bước đầu của quá trình cải cách
Từ thực tế trên, Dự án đã đưa ra nhận định, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mới chỉ là bước đầu của quá trình cải cách. Do đó, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp có vốn nhà nước nói riêng, cần phải tiếp tục thực hiện quá trình cải cách: tái cơ cấu cấu trúc, cơ cấu quản lý, cơ cấu tài chính và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp. Cụ thể được thể hiện ở mô hình dưới đây:
(1)     Tái cơ cấu cấu trúc - Các Tổng công ty, doanh nghiệp (có công ty con, liên doanh, liên kết) cần thực hiện lộ trình sau:
(i) Lên chiến lược tập trung vào các nhóm ngành kinh doanh cụ thể và sắp xếp lại các công ty theo lĩnh vực đó;
(ii) Với mỗi khối kinh doanh, chọn hoặc thành lập mới một công ty để trở thành TCT con và nhóm tất cả các cán bộ chủ chốt quản lý các công ty con dưới quyền kiểm soát và quản lý của các TCT con đó.
(iii) Chuyển tất cả các dự án do Tổng công ty, doanh nghiệp trực tiếp quản lý cho TCT con của các khối kinh doanh tương ứng nhằm giảm thiểu rủi ro quản lý trên cấp độ Tổng công ty, doanh nghiệp;
(iv) Chỉ giữ lại các khoản đầu tư vào các công ty liên kết nếu đó là các khoản đầu tư chiến lược của Tổng công ty, doanh nghiệp và cân nhắc thoái đầu tư các khoản còn lại.
(2)     Tái cơ cấu quy trình quản lý - đề xuất quản lý tập trung để các công ty hoạt động trong cùng một lĩnh vực đi theo cùng một định hướng chiến lược chung bằng cách nhóm các cán bộ chủ chốt thích hợp quản lý các công ty dưới quyền kiểm soát của TCT của khối kinh doanh tương ứng.
(3)    Tái cơ cấu quy trình quản trị doanh nghiệp - Xem xét việc áp dụng quy trình quản trị doanh nghiệp thuộc loại hình cổ phần phù hợp với điều khoản về Điều lệ mẫu quy định trong Quyết định số 15/2007/QĐ - BTC do Bộ Tài chính ban hành.
(4)     Tái cơ cấu tài chính - Thay thế các khoản vay hiện hành bằng các khoản vay có thời hạn dài hơn và chi phí lãi vay thấp hơn nhằm giảm bớt sức ép về trả nợ gốc và lãi vay cũng như tạo điều kiện để doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh về chi phí.
Việc thực hiện các giải pháp trên sẽ giảm thiểu xung đột lợi ích và cạnh tranh nội bộ không cần thiết giữa các công ty hoạt động cùng ngành nghề kinh doanh trong TCT, tạo ra các công ty lớn, có tính cạnh tranh cao và là biểu tượng cho từng ngành công nghiệp, giảm thiểu sự trùng lặp trong công việc và tăng lợi thế về quy mô. Tăng cường sức mạnh tài chính của các cổ đông thiểu số, đặc biệt là các cán bộ, công nhân viên của công ty.
Đối với các định chế tài chính là SCIC và DATC, Dự án đề xuất một số nội dung liên quan đến việc cải thiện quy trình quản lý của SCIC với các doanh nghiệp nhận đầu tư; biện pháp nâng cao năng lực của cán bộ nhân viên thuộc SCIC. Bên cạnh đó, Dự án đề xuất kiến nghị sửa đổi cơ cấu quản lý của SCIC đối với các DNNN. Đối với DATC, Dự án khuyến nghị mở rộng vai trò của DATC, qua đó trao quyền hợp phát thực hiện tái cơ cấu các DNNN hoạt động kém hiệu quả để phục hồi và chuẩn bị CPH. Theo đó, Dự án khuyến nghị xây dựng điều khoản trong các luật liên quan để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của DATC và người mua nợ từ DATC như cơ sở pháp lý trong chuyển giao các khoản nợ và tài sản đảm bảo có sự tham dự của DATC. Về lâu dài, cần có chế tài đủ mạnh để DATC được quyền thực hiện các biện pháp tái cơ cấu một cách minh bạch và có quyền kiểm soát. Các biện pháp này ràng buộc bên thứ 3 (như người lao động...) thông qua phê chuẩn của các chủ nợ.
Các giải pháp về chuẩn bị cải cách DNNN và quản trị Công ty do Dự án đề xuất đã được các Tổng công ty, doanh nghiệp nhất trí cao. Theo đó, một số Tổng công ty, doanh nghiệp đã lựa chọn và áp dụng để thực hiện tái cấu trúc tài chính, doanh nghiệp và quản lý cùng với việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng về thông tin doanh nghiệp. Hy vọng rằng các giải pháp này, điều hành Tổng công ty, doanh nghiệp sẽ giúp cho quá trình cải cách DNNN ở Việt Nam thành công, đạt hiệu quả cao; các Tổng công ty, doanh nghiệp sau quá trình cải cách hiệu quả sẽ được nâng cao, khẳng định được vị trí cạnh tranh trên thị trường trong nước và nước ngoài.

 

Nguồn: THEO TẠP CHÍ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THÁNG 10/2009
  
 Thông tin cần biết
 
  
ĐVT: tr.đ/chỉ
Loại Mua Bán
  
 In Ấn