Thứ Ba, 07/09/2010 - 08:49    
 Chi tiết tin bài
Hiệu quả hoạt động của DATC: Những kiến nghị từ thực tế
Ngày đăng: 21/09/2009
Trong thời gian qua, TBTCVN đã thông tin tới bạn đọc những ghi nhận từ thực tế của hoạt động mua bán nợ gắn với TCCDN do DATC thực hiện cùng những cách thức triển khai thực hiện của DATC, những thuận lợi, khó khăn của hoạt động này trong thực tế, những quan điểm và ý kiến chỉ đạo của Bộ Tài chính, của Chính phủ đối với DATC. Từ thực tế đó có thể khẳng định, hoạt động mua bán nợ gắn với TCCDN hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Đảng, chính phủ đã đặt ra khi thành lập DATC.

             Mặc dù vậy, với những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện, kết quả đạt được của hoạt động này còn rất khiêm tốn so với nhu cầu, đòi hỏi của nền kinh tế. Điều này đòi hỏi cần phải có sự quan tâm hơn nữa, có giải pháp thích hợp hơn nữa để thúc đẩy mạnh hoạt động có ý nghĩa này trong thời gian tới. Để khép lại chuyên mục tại đây, TBTCVN xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc quan điểm của ông Nguyễn Huy Lập - Trưởng phòng Pháp chế, tư vấn và hợp tác - người phát ngôn của DATC xung quanh vấn đề này.

Ông Nguyến Huy Lập

Trưởng phòng Pháp chế, Tư vấn và Hợp tác - Người phát ngôn của DATC

 

* Thưa ông, hoạt động TCCDN thông qua hoạt động mua bán nợ đã được thực tế khẳng định nhưng cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện. Vậy ông có đề xuất, kiến nghị gì để hoạt động này có thể phát triển mạnh hơn nữa?
            - Tôi cho rằng đây là một loại hình kinh doanh mới ở Việt Nam nên để cho hoạt động này có thể phát triển được thì kiến nghị đầu tiên đó là nhà nước cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý một cách đầy đủ và đồng bộ cho hoạt động này. Để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc đang cản trở việc thực hiện hoạt động TCCDN thì cần sớm được làm rõ và quy định cụ thể các vấn đề đặc thù trong quá trình thực hiện như: miễn giảm một phần nghĩa vụ trả nợ để xử lý tồn tại tài chính, hỗ trợ tài chính thông qua việc chuyển nợ thành vốn góp, bảo lãnh vay vốn ngân hàng hoặc cho vay bổ sung để DN có vốn hoạt động. Bên cạnh đó, nội dung thỏa thuận giữa DATC với các Bộ, UBND các tỉnh để chuyển đổi sở hữu đối với DNNN thua lỗ không còn vốn nhà nước thông qua hoạt động mua bán nợ cũng cần được hướng dẫn cụ thể để cùng thống nhất thực hiện. Ngoài ra, cơ chế bán nợ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam cũng cần được thay đổi theo hướng linh hoạt hơn.
* Ông có thể nói rõ hơn về việc miễn giảm một phần nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động TCCDN thông qua hoạt động mua bán nợ?
- Đối với một DNNN thì một trong những điều kiện tiên quyết để có thể cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu được là phải xử lý triệt để số âm vốn chủ sở hữu, bởi lẽ không nhà đầu tư nào sẵn sàng bỏ vốn ra để bù đắp những tổn thất tài chính trước đó của DN mà người được lợi lại là chủ nợ của DN đó. Mặt khác, đối với chủ nợ, số âm vốn chủ sở hữu của DN cũng chính là phần giá trị các chủ nợ đã thực tế bị mất đi nếu thanh lý toàn bộ tài sản của DN. Như vậy, việc miễn giảm một phần nghĩa vụ trả nợ cho DN khách nợ để DN đó không còn âm vốn chủ sở hữu - xét về bản chất - thì chỉ là thủ tục mang tính hình thức, vì đó chỉ là việc miễn giảm phần giá trị không còn tồn tại, cũng tương tự như việc đánh giá lại giá trị của khoản nợ theo giá thị trường.
Tuy nhiên, việc miễn giảm này lại cho phép DATC cái quyền được chuyển nợ thành vốn góp tại DN theo mức giá hợp lý, quyền được tái cơ cấu lại DN đó. Như vậy, đây thực chất là sự trao đổi để Công ty có quyền đầu tư vào và quản lý DN theo điều kiện phù hợp với Công ty. Điều này hoàn toàn khác với việc xóa nợ mà Nhà nước thực hiện đối với các tổ chức, cá nhân - một hình thức mà nhà nước từ bỏ quyền của mình đối với khoản nợ, nhưng không nhận lại bất kỳ quyền lợi nào khác từ phía tổ chức, cá nhân được xóa nợ. Vấn đề đặt ra là việc miễn giảm này có phải là việc hợp thức hóa những sai phạm dẫn đến những tổn thất tài chính trước đây ở DN khách nợ hay không. Một điều rất rõ ràng là việc miễn giảm một phần nghĩa vụ trả nợ nêu trên không làm thay đổi được quá khứ của DN, không làm thay đổi được số liệu và hồ sơ tài liệu về hoạt động kinh doanh trước đây của DN khách nợ, nên không thể thay đổi được những sai phạm mà các tổ chức, cá nhân trước đây đã gây ra đối với DN khách nợ. Vì vậy, các cơ quan quản lý nhà nước vẫn có đầy đủ căn cứ để xem xét, đánh giá và truy cứu trách nhiệm của những tổ chức, cá nhân đó sau khi DN khách nợ đã được miễn giảm một phần nghĩa vụ trả nợ. Do vậy, để DATC có thể chuyển đổi sở hữu được những DNNN đã âm vốn chủ sở hữu thông qua hoạt động mua bán nợ, thì việc miễn giảm một phần nghĩa vụ trả nợ cho DN khách nợ cần được coi là thẩm quyền cần thiết của DATC.
* Theo ông nội dung thỏa thuận giữa DATC với cơ quan đại diện chủ sở hữu DN cần được hướng dẫn thực hiện thế nào khi thỏa thuận để tái cơ cấu, chuyển đổi sở hữu DNNN đã âm vốn chủ sở hữu thông qua hoạt động mua bán nợ?
- Nghị định số 109/2007/NĐ-CP đã cho phép Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố được thỏa thuận với DATC để chuyển đổi sở hữu đối với DNNN thua lỗ không còn vốn nhà nước. Tuy nhiên, do chưa có hướng dẫn cụ thể, nên DATC và các bộ, địa phương vẫn còn có những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Một số bộ, địa phương cho rằng quy trình chuyển đổi các DN này cần được thực hiện như đối với các DNNN đủ điều kiện chuyển đổi khác. Điều này sẽ gây khó khăn và cản trở DATC trong việc triển khai tái cơ cấu lại các DN đó. Vì vậy, sẽ là hợp lý hơn nếu một số nội dung cơ bản được thỏa thuận phù hợp với phương án tái cơ cấu do DATC xây dựng, đặc biệt là các nội dung liên quan đến việc DATC chuyển nợ thành vốn góp tại DN, quy mô và cơ cấu vốn điều lệ mới của DN, giá bán cổ phần cho người lao động tại DN, việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược và giá bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược của DN ... Đơn cử như việc quyết định giá bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược: theo chính sách hiện hành của Nhà nước về cổ phần hóa DNNN, giá bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược được xác định bằng giá đấu thành công bình quân. Đây là quy định hợp lý, đảm bảo hài hòa được lợi ích giữa nhà nước, người lao động và nhà đầu tư chiến lược. Tuy nhiên, chính sách này chỉ phù hợp đối với những DNNN vẫn còn vốn nhà nước, nhưng lại không phù hợp với trường hợp DNNN đã âm vốn chủ sở hữu nhà nước được DATC tái cơ cấu, chuyển đổi sở hữu thông qua hoạt động mua bán nợ.
Chúng ta đều biết, đối với những DNNN vẫn còn vốn nhà nước, thì việc cổ phần hóa cần phải đồng thời đạt được 2 mục tiêu: tối đa hóa quyền lợi của Nhà nước, và nâng cao hiệu quả hoạt động của DN. Để đạt được mục tiêu tối đa hóa quyền lợi của nhà nước, thì cách tốt nhất là để thị trường tự định giá DN thông qua việc đấu giá công khai. Trong khi đó, để đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của DN thì việc các nhà đầu tư chiến lược có ưu thế về kỹ thuật, công nghệ, có năng lực quản lý tốt tham gia đầu tư vốn vào DN là hết sức quan trọng. Vì vậy, rất cần thiết có những điều kiện ưu đãi đối với nhà đầu tư chiến lược khi tiến hành cổ phần hóa các DNNN. Như vậy, hai mục tiêu này không hoàn toàn thống nhất với nhau. Để tối đa hóa được lợi ích của nhà nước, thì sự ưu đãi cho các nhà đầu tư chiến lược phải được tối thiểu hóa, nên không có tác dụng thu hút các nhà đầu tư chiến lược. Ngược lại, ưu đãi quá lớn đối với nhà đầu tư chiến lược có tác dụng thu hút các nhà đầu tư chiến lược, nhưng lại làm giảm bớt lợi ích của nhà nước từ việc bán cổ phần.
Việc quy định bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược theo giá đấu thành công bình quân như quy định hiện hành là một lựa chọn đảm bảo tương đối hài hòa quyền lợi của nhà đầu tư và quyền lợi của nhà nước. Tuy nhiên, đối với trường hợp DNNN đã âm vốn chủ sở hữu nhà nước được DATC tái cơ cấu, chuyển đổi sở hữu thông qua hoạt động mua bán nợ thì cơ chế bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược như nêu trên lại không phù hợp. Ở những trường hợp này, vì vốn nhà nước không còn, nên lợi ích của nhà nước không phải là số tiền có thể thu được từ việc bán cổ phần của DN, mà chỉ còn là lợi ích gián tiếp. Việc phục hồi lại và phát triển có hiệu quả DN đó không những tăng thêm đóng góp cho ngân sách nhà nước, mà còn giúp nhà nước giảm thiểu các khoản chi phí cho các vấn đề xã hội nếu DN đó không được phục hồi, tiếp tục làm ăn thua lỗ, tiến tới phá sản. Như vậy, trong những trường hợp này, lợi ích của Nhà nước sẽ tỷ lệ thuận với việc phục hồi và nâng cao hiệu quả hoạt động của DN được tái cơ cấu, và vì thế những điều kiện ưu đãi cho nhà đầu tư chiến lược trong trường hợp này không xung đột với lợi ích của Nhà nước.
Từ những lý do đó, tôi cho rằng đối với trường hợp DNNN đã âm vốn chủ sở hữu nhà nước được DATC tái cơ cấu, chuyển đổi sở hữu thông qua hoạt động mua bán nợ thì Nhà nước không nên quy định hoặc can thiệp vào việc định giá bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược. Vấn đề này nên trao toàn quyền cho DATC quyết định trên cơ sở tự cân đối lợi ích giữa DATC và nhà đầu tư chiến lược.
* Ông có thể cho biết rõ hơn về kiến nghị liên quan tới việc DATC bảo lãnh cho các DN vay vốn ngân hàng hoặc DATC cho vay hỗ trợ vốn tạm thời cho các DN để thực hiện tái cơ cấu thông qua hoạt động mua bán nợ?
- Thực tế vừa qua đã cho thấy, không phải DN nào được DATC tái cơ cấu, chuyển đổi sở hữu cũng cần được DATC cho vay vốn hoặc bảo lãnh để DN vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, không ít trường hợp đã chỉ ra rằng nếu không được DATC cho vay vốn tạm thời hoặc bảo lãnh để vay vốn ngân hàng thì phương án tái cơ cấu, chuyển đổi sở hữu DN khách nợ khó có thể thực hiện có hiệu quả như mong muốn. Đặc điểm của hoạt động mua bán nợ gắn với TCCDN khách nợ là các DN khách nợ đều là những DN đã lâm vào tình trạng phá sản, cực kỳ khó khăn về tài chính, không thể vay được vốn ngân hàng, vì vậy, việc DATC cho vay hỗ trợ hoặc bảo lãnh để DN khách nợ vay vốn ngân hàng là rất cần thiết giúp DN khẩn trương bảo dưỡng, sửa chữa máy móc thiết bị, hoặc tiếp tục duy trì hoạt động SX - KD, chuẩn bị cho giai đoạn tái cơ cấu.
Ngay cả khi đã hoàn thành các thủ tục thực hiện tái cơ cấu, chuyển đổi sở hữu DN khách nợ, việc bảo lãnh, cho vay hỗ trợ của DATC đối với một số DN sau khi được cơ cấu lại tài chính, chuyển đổi sở hữu cũng rất cần thiết. Thực chất của việc tái cơ cấu lại tài chính cho DN khách nợ là việc DATC sẽ giảm bớt một phần nghĩa vụ tài chính cho DN khách nợ, chuyển nợ thành vốn góp tại DN và huy động thêm vốn góp từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài. Việc giảm một phần nghĩa vụ trả nợ và chuyển nợ thành vốn góp tại DN chỉ làm cho DN cân bằng được tài chính và thay đổi cơ cấu vốn của DN, nhưng không tạo thêm nguồn vốn cho DN hoạt động. Vì vậy, việc DN có vốn để hoạt động và đầu tư cải tạo, nâng cấp máy móc thiết bị hay không sẽ phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn điều lệ được góp từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài và nguồn vốn vay từ ngân hàng. Thực tế cho thấy, trong một số trường hợp, việc huy động vốn góp từ các tổ chức, cá nhân vào các DN không đạt được như mong muốn vì nhiều lý do, và như vậy thì rõ ràng sự bảo lãnh hoặc cho vay hỗ trợ của DATC là rất cần thiết. Bên cạnh sự cần thiết khách quan đó, một điều rất rõ ràng là việc DATC bảo lãnh, cho vay hỗ trợ DN khách nợ hoàn toàn phù hợp với thẩm quyền của DN đã được quy định tại Luật DNNN và các văn bản hướng dẫn dưới luật, đồng thời không vi phạm Luật các tổ chức tín dụng.
            * Ngoài các kiến nghị về hành lang pháp lý nêu trên, ông có kiến nghị gì liên quan tới sự phối hợp giữa các bộ, ngành địa phương, các DN với DATC trong quá trình thực hiện?
- TCCDN là một quá trình phức tạp với rất nhiều công việc liên quan bao gồm cả tái cơ cấu tài chính, tái cơ cấu lại tổ chức bộ máy, tái cơ cấu lại hoạt động sản xuất kinh doanh, tái cơ cấu lại hệ thống quản trị, điều hành,...Vì vậy, hiệu quả của hoạt động tái cơ cấu này không chỉ phụ thuộc vào sự nỗ lực của DATC, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm chỉ đạo, phối hợp của các cơ quan đại diện chủ sở hữu DN và sự hợp tác của chính DN được tái cơ cấu. Thực tế vừa qua cho thấy, những phương án tái cơ cấu nào nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao, sự hợp tác chặt chẽ của các cơ quan đại diện chủ sở hữu DN và sự hợp tác tích cực từ chính DN thì phương án tái cơ cấu được tiến hành nhanh chóng và đạt hiệu quả cao. Vì vậy, DATC rất mong các bộ, địa phương, các DN nhận thấy được tác dụng tích cực của hoạt động TCCDN thông qua hoạt động mua bán nợ, và hợp tác, phối hợp chặt chẽ với Công ty trong quá trình triển khai thực hiện.
* Xin cảm ơn ông!
 
 

 

Nguồn: THEO THỜI BÁO TÀI CHÍNH SỐ 113 NGÀY 21/9/2009
  
 Thông tin cần biết
 
  
ĐVT: tr.đ/chỉ
Loại Mua Bán
  
 In Ấn