Ông Phạm Mạnh Thường - Phó Tổng giám đốc Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của DN (DATC) đã nhấn mạnh như vậy khi được hỏi về vấn đề mua bán và xử lý nợ xấu tại các DNNN hiện nay. Ông Thường cho biết:
Quy mô nợ của các DNNN hiện nay là tương đối lớn, đặc biệt là nợ xấu. Có những đơn vị nợ đến vài lần trên vốn chủ sở hữu, thậm chí có đơn vị nợ đến chục lần. Đó là khoản nợ mà các ngân hàng, các tổ chức tín dụng đã cấp vốn cho DN, nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà họ không thể trả được. Thế nên, nếu không có một cơ chế để xử lý vấn đề này thì khi tụ thành quy mô lớn, nó sẽ là mối đe dọa tiềm ẩn, có thể xẩy ra bất kỳ lúc nào đối với nền kinh tế quốc gia.
Theo thống kê của DATC, nợ xấu tại Việt Nam hiện vào khoảng 60.000-70.000 tỷ đồng, trong đó đa phần là nằm trong các ngân hàng nhà nước và “con nợ” chủ yếu cũng là DNNN. Do đó, một khi không xử lý được thì bản thân tính thanh khoản của các ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng, nền kinh tế mất đi một khoản vốn lớn không quay vòng được, còn các DN cũng không thể cổ phần hóa.
Đánh giá về mô hình mua bán nợ hiện nay, ông Thường cho rằng, mô hình mua bán nợ rất khả thi ở Việt Nam song hành lang pháp lý còn quá thiếu và yếu, trong khi các cơ quan quản lý lại thường phản ứng quá chậm, dẫn đến thời gian hoàn tất chuyển đổi mô hình DN kéo dài… Vì thế, để khắc phục vấn đề này, Chính phủ nên ban hành một nghị định tái cơ cấu DN thông qua hoạt động mua bán nợ, đồng thời “mở cửa” cho nhà đầu tư trong và ngoài nước cùng tham gia, từ đó hình thành thị trường buôn bán nợ xấu sơ cấp, thứ cấp. Tuy nhiên, để làm tốt vấn đề này, chúng ta phải xuất phát từ thực trạng của các DN, tức phải bắt nguồn từ khâu tài chính, quản trị điều hành, đến việc định vị lại hướng phát triển của DN.
Thời gian qua, DATC đã thực hiện mua các khoản nợ xấu của các DN từ ngân hàng, cụ thể đã mua khoảng 6.500 tỷ đồng nợ xấu từ các ngân hàng, đang thực hiện xử lý nợ xấu cho khoảng 100 DNNN và DN đã cổ phần hóa; đã hoàn thành xử lý nợ xấu cho khoảng 20 DN, trong đó có một nửa là DNNN, còn lại là DN đã cổ phần hóa nhưng hoạt động yếu kém. Sau khi đánh giá thực trạng của các DN về khả năng có thể tái cơ cấu lại, định vị lại hướng phát triển DN, đến nay có nhiều DN đã hồi phục trở lại, hiệu quả sinh lời/vốn chủ sở hữu trên 30%, còn trung bình là 20%.
Chẳng hạn như Công ty Mía đường Sơn La. Trước đây địa phương cũng đã “bất lực” trong việc cổ phần hóa trong suốt 3-4 năm. Nhưng sau khi được xử lý nợ xấu và chuyển thành công ty cổ phần đã hiệu quả rõ rệt. Công ty này ngay lập tức, tạo việc làm cho hơn 4.000 hộ dân đồng bào thiểu số. Qua đó cho thấy, nếu tập trung tái cấu trúc thì cơ hội phát triển của DN sẽ được hiện thực hóa.
Tuy nhiên, do việc mua bán nợ ở nước ta hiện vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ, hệ thống pháp lý, chế tài cho hoạt động này còn thiếu, nên quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn. Vì thế, ông Thường cho rằng, Nhà nước nên đặt vấn đề xử lý nợ xấu thành một chương trình ở cấp quốc gia, khi đó nó sẽ vừa giúp tăng tính thanh khoản cho ngân hàng, vừa đẩy nhanh được tiến trình cổ phần hóa.
Để làm được điều này, Chính phủ cần có những biện pháp yêu cầu các ngân hàng chủ nợ phải thực hiện việc bán nợ, đồng thời mở thị trường này cho tất cả các nhà đầu tư cùng tham gia, vì nợ xấu cũng là một món hàng và việc định giá nợ xấu phải được thông qua thị trường, cho dù chúng ta có nhiều nghiệp vụ khác nhau để định giá.
Theo ông Thường, nếu làm được như vậy, chúng ta sẽ mở được thị trường mua bán nợ sơ cấp: giữa ngân hàng chủ nợ và các nhà đầu tư xử lý nợ xấu. Sau đó, có thể có được thị trường mua bán nợ thứ cấp, đó là việc mua bán các khoản nợ xấu giữa các nhà đầu tư tư nhân với nhà nước. Và để cơ chế này phát huy một cách hiệu quả, cần phải có sự hội tụ của 3 yếu tố, đó là: độ mở về mặt tư duy của người làm chính sách, của cơ quan quản lý Nhà nước; mức độ phản ứng của chính sách với đòi hỏi của thị trường và khuôn khổ pháp lý đủ rộng cho hoạt động này./.