Kể từ ngày 1/7/2010, tất cả các DN 100% vốn nhà nước sẽ chuyển sang hoạt động theo Luật DN (dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn). Đây là một trong những nội dung quan trọng trong Chỉ thị 854/CT - TTg ngày 19/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện kết luận của Bộ Chính trị trong việc thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước...
Theo nội dung Chỉ thị số 854/CT - TTg nêu trên của Thủ tướng Chính phủ thì các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty phải xây dựng Đề án điều chỉnh tiến độ thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa các DN 100% vốn nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong quý III năm 2009, đảm bảo đến ngày 01/7/2010, tất cả các DN này đều chuyển sang hoạt động theo Luật DN. Đây là một nội dung yêu cầu thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong quá trình sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X và cũng là một thách thức lớn cho các cơ quan liên quan và DN trong quá trình thực hiện “cải cách DN” nói chung. Số lượng các DN cần phải sắp xếp chuyển đổi là rất lớn, vào khoảng 1.500, đặc biệt trong đó có khoảng 90 công ty mẹ là tập đoàn, tổng công ty nhà nước với thời gian chuyển đổi tính từ ngày Chỉ thị được ban hành là khoảng 01 năm. Để có thể thực hiện được nhiệm vụ này, có một số vấn đề cần được quan tâm, thống nhất và làm rõ như sau:
Một là, cần hiểu và thống nhất việc chuyển các công ty nhà nước sang hoạt động theo Luật DN trước ngày 01/7/2010 là thực hiện đúng quy định tại Điều 166 của Luật DN năm 2005.
Hai là, đối tượng chuyển đổi ở đây là toàn bộ các công ty nhà nước độc lập và công ty nhà nước là thành viên của các tập đoàn, tổng công ty; các công ty mẹ nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, các công ty mẹ là các tổng công ty nhà nước, tập đoàn kinh tế, các nông, lâm trường quốc doanh.
Ba là, hình thức chuyển đổi là chuyển sang công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên nhà nước hoặc nhiều thành viên) chứ không phải là cổ phần hóa toàn bộ các đối tượng trên như nhiều người xác định.
Bốn là, việc chuyển đổi phải được thực hiện một cách thận trọng, đảm bảo tính công khai, minh bạch, không làm thất thoát vốn và tài sản nhà nước và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
Năm là, trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi cần xác định rõ Nhà nước chỉ đầu tư vốn vào các tập đoàn, tổng công ty, công ty mẹ và số vốn này phải được xác định rõ là vốn nhà nước đầu tư và phải có cơ chế quản lý, giám sát chặt chẽ. Việc các tập đoàn, tổng công ty và công ty mẹ đầu tư vốn vào các công ty con, công ty liên kết theo quy định của pháp luật do đại diện chủ sở hữu quyết định, số vốn đầu tư tại các công ty này không xác định là vốn nhà nước đầu tư tại các công ty con, công ty liên kết.
Sáu là, quá trình chuyển đổi phải đảm bảo được chủ trương kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Sau khi chuyển đổi, DN phải hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao khả năng quản trị và đóng góp tốt hơn cho xã hội cũng như ngân sách nhà nước. Việc quản lý vốn nhà nước góp tại các DN cần phải được thống nhất thực hiện và tạo điều kiện tách bạch chức năng quản lý nhà nước ra khỏi chức năng điều hành kinh doanh của DN.
Từ việc xác định rõ và thống nhất những quan điểm nêu trên, một số cơ chế, chính sách liên quan cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp như sau:
- Nghiên cứu, sửa đổi tiêu chí, danh mục phân loại DN 100% vốn nhà nước được ban hành kèm theo Quyết định số 38/2007/QĐ-TTg ngày 20/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ theo hướng thu hẹp lĩnh vực, ngành nghề nhà nước nắm giữ 100% vốn, các DN không thuộc diện này sẽ thực hiện cổ phần hóa, tỷ lệ cổ phần nhà nước tiếp tục nắm giữ do cơ quan có thẩm quyền quyết định cổ phần hóa phê duyệt.
- Về cổ phần hóa, nghiên cứu sửa đổi quy định về việc xác định giá trị lợi thế kinh doanh của DN (bao gồm cả lợi thế về vị trí địa lý, giá trị thương hiệu, tiềm năng phát triển) cho phù hợp; yêu cầu toàn bộ các DN cổ phần hóa phải tiến hành rà soát và xây dựng phương án sử dụng đất sau khi chuyển đổi, kiên quyết thu hồi để bán đấu giá những diện tích đất sử dụng chưa đúng mục đích hoặc phương án sử dụng xây dựng sau chuyển đổi không hiệu quả; đổi mới, đa dạng hóa phương thức bán cổ phần ưu đãi cho người lao động; đổi mới phương thức bán cổ phần lần đầu nhằm thu hút được các cổ đông chiến lược, đặc biệt là cổ đông chiến lược nước ngoài có đủ điều kiện hỗ trợ DN phát triển sau cổ phần, việc tiếp tục bán cổ phần nhà nước theo phương án cổ phần hóa đã duyệt và được đại hội cổ đông lần đầu thông qua xác định là tiếp tục quá trình cổ phần hóa.
- Về chuyển sang công ty TNHH nhà nước một thành viên phải tổ chức rà soát và xác định đúng đối tượng DN mà Nhà nước cần tiếp tục duy trì 100% vốn. Nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 95/2006/NĐ-CP ngày 8/9/2006 của Chính phủ theo hướng việc xác định vốn điều lệ của DN phải phù hợp với nhu cầu hoạt động và phương án, chiến lược phát triển chứ không nhất thiết phải có mức vốn điều lệ không thấp hơn 30 tỷ đồng (đối với công ty nhà nước độc lập) và 500 tỷ đồng (đối với công ty mẹ); sửa đổi, bổ sung quy định về thủ tục, trình tự, nguyên tắc xử lý tài chính, lao động... theo hướng đơn giản hóa vì thực chất các DN sau chuyển đổi, Nhà nước vẫn giữ 100% vốn; bổ sung những nội dung quy định quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước (Hội đồng thành viên) tại các DN này sau chuyển đổi phù hợp với Luật DN nhưng vẫn đảm bảo được sự chỉ đạo, điều tiết của Nhà nước.
- Về chức năng đại diện chủ sở hữu, cần nghiên cứu xây dựng Nghị định mới của Chính phủ quy định về quản lý đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước đầu tư vào DN trong đó quy định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước tại các DN sau chuyển đổi, việc quản lý và giám sát nguồn vốn Nhà nước đầu tư tại các tập đoàn, tổng công ty và công ty mẹ sau khi chuyển đổi sang hoạt động theo Luật DN, thống nhất cơ quan thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại DN và phân định rõ vai trò đại diện chủ sở hữu của các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác quản lý vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại DN.
Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống cơ chế quản lý, đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước tại DN thông qua mô hình Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước. Trước mắt ban hành nghị định quy định về điều lệ tổ chức hoạt động của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) cũng như hoàn chỉnh cơ chế chính sách về tài chính, cơ chế quản lý giám sát người đại diện tạo điều kiện thuận lợi cho SCIC hoạt động.
- Về quản lý các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, Chính phủ cần sớm ban hành nghị định về tạo đoàn kinh tế, trong đó quy định tập đoàn hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực hay theo mô hình khác trên cơ sở tổng kết, đánh giá việc thực hiện thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế. Việc phê duyệt đề án thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế phải yêu cầu xây dựng gắn luôn với điều lệ tổ chức và hoạt động cũng như quy chế tài chính đã được các bộ chức năng rà soát, thẩm định. Thủ tướng Chính phủ sớm ban hành quyết định làm cơ sở cho các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước xây dựng đề án đánh giá lại giá trị vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước để phản ánh đúng thực chất vốn, tài sản của nhà nước (bao gồm cả giá trị thương mại) làm cơ sở cho việc chuyển đổi sang mô hình mới hoạt động theo Luật DN.
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chí, giám sát đánh giá, phân loại DN cùng việc nghiên cứu, bổ sung các chế tài để nâng cao trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Ban điều hành tập đoàn, tổng công ty gắn với việc tuân thủ chấp hành chính sách, chế độ của Nhà nước và hiệu quả sản xuất kinh doanh của tập đoàn, tổng công ty.
Bên cạnh đó, sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh phương án sắp xếp thì các bộ, địa phương, tập đoàn, tổng công ty phải thực hiện công khai lộ trình chuyển đổi để toàn thể xã hội cùng thực hiện giám sát quá trình này. Tập trung kiện toàn Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DN, đặc biệt là các bộ phận chức năng giúp các bộ quản lý ngành trong quá trình triển khai nhiệm vụ này.
Với những nội dung quan điểm được thống nhất và cơ chế chính sách nêu trên được ban hành sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoàn thành mục tiêu sắp xếp, đổi mới DNNN đã được Thủ tướng Chính phủ đề ra.